Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Dịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Dịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2022

Cách Gieo Quẻ Kinh Dịch Bằng 3 Đồng Xu

 I - CÁCH GIEO QUẺ 3 ĐỒNG XU

Từ bao đời nay, văn hoá tín ngưỡng đã ăn sâu vào nếp sống của con người Việt Nam. Một trong số đó, hình thức gieo quẻ bằng đồng xu đã trở thành tín ngưỡng quen thuộc của người Việt. Gieo quẻ được sử dụng nhằm mục đích xin ý kiến của Thần linh khi đứng trước một quyết định nào đó, đồng xu chính là công cụ để giao tiếp với thần linh và bậc bề trên.

Mỗi kết quả cho từ gieo quẻ đồng xu kinh dịch sẽ giúp bạn dự đoán được mọi việc sẽ suôn sẻ hay khó khăn để có sự chuẩn bị tốt nhất. Đây là hình thức bói toán được áp dụng rộng rãi, tạo nên niềm tin, tín ngưỡng và sự chiêm nghiệm. Cách gieo quẻ bằng đồng xu rất đơn giản. Bạn có thể làm theo các bước dưới đây.



1, CÔNG CỤ GIEO QUẺ
Đồng xu cổ: Chuẩn bị 3 đồng xu cổ, là loại đồng tiền có hình tròn, ở giữa có lỗ rộng.  Mặt có chữ được quy ước là mặt dương, mặt không có chữ được định là mặt âm. Lưu ý đồng tiền nên cần rõ chữ, sạch và sáng, được làm bằng kim loại đồng để có thể tiếp nhận nguồn năng lược một cách tốt nhất và linh nghiệm hơn.

Đĩa sứ/ hộp gieo quẻ: Để việc gieo quẻ  được thuận tiện, bạn nên chuẩn bị một chiếc đĩa sứ to, khi gieo xu lên trên trên sẽ không bị bay ra ngoài. Tuyệt đối không dùng đĩa hay mặt phẳng bằng kim loại sẽ làm mất đi tính linh nghiệm của quẻ. Các đáp án dẫn tới dễ sai lệch. Ngoài ra, nếu có điều kiện, hãy mua một Hộp gieo quẻ kinh dịch lục hào chu dịch để gieo chính xác hơn trong nhiều tình huống.

Giấy bút: Chuẩn bị giấy bút để ghi nhớ các kết quả gieo quẻ để tránh nhầm lẫn trong quá trình gieo.

Khi gieo quẻ cần chọn cho mình một nơi yên tĩnh, giữ cho mình ý niệm thành tâm, lời khấn thành khẩn. Tuyệt đối không nôn nóng, chỉ chiêm những việc thật sự cần thiết và chính thiện, như vậy thì việc gieo quẻ mới ứng nghiệm.
2, CÁCH GIEO QUẺ
Đặt 3 đồng xu vào giữa hai lòng bàn tay thành tâm suy nghĩ đến điều mà bạn đang muốn hỏi. Tiếp theo khum tay để xu không bị rơi ra ngoài và xóc đều xu trong lòng bàn tay. Nam xóc 7 lần, nữ xóc 9 lần rồi thả đồng xu ra đĩa và ghi kết quả vào giấy. Mỗi lần ghi rõ bao nhiêu ngửa, bao nhiêu sấp. Lặp lại 6 lần liên tiếp như vậy ta sẽ sẽ quẻ dịch tương ứng.

Cách ghi lại các hào và quẻ

Nếu 1 đồng sấp, 2 đồng ngửa thì ghi là hào dương (+)

Nếu 1 đồng ngửa, 2 đồng sấp thì ghi là hào âm (-)

Nếu 3 đồng ngửa bạn ghi là hào âm (-) (động/O)

Nếu 3 đồng sấp ghi hào dương (+) (động/X)

Hào có vòng tròn “o” là hào dương động, hào có dấu “x” gọi là hào âm động.

Động thì biến, dương động biến thành âm, âm động biến thành dương.

– Trong một quẻ có sáu hào toàn động thì là toàn biến, sáu hào đều không động là không biến. Một vạch liền là “thiếu dương”, 2 vạch đứt là “thiếu âm”.

– Vòng tròn “o” là “lão dương” chủ về việc quá khứ, dấu “x” là “lão âm” chủ về việc tương lai. Vòng tròn “o” là hào động, dấu “x” là hào biến.

Lấy 1 quẻ làm ví dụ:

- Lần 6: N N N – 3 đồng đều ngửa : Hào âm động (lão âm) ghi thêm: — — x

- Lần 5: N N S – 2 đồng ngửa, 1 đồng sấp : Hào dương một vạch liền : ———

- Lần 4: S S S – 3 đồng đều sấp : Hào dương động (lão dương ) ghi : ——— o

- Lần 3: N S S – 1 đồng ngửa, 2 đồng sấp: Hào âm ghi một vạch đứt : — —

- Lần 2: N S S – 1 đồng ngửa, 2 đồng sấp: Hào âm ghi một vạch đứt : — —

- Lần 1: S S S – 3 đồng đều sấp : Hào dương động ( lão dương ) ghi : ——— o

Lúc xếp hào thì xếp từ dưới lên trên. Lúc xếp tên quẻ thì lại xếp từ trên xuống dưới. Như vậy sau 6 lần gieo quẻ thì quẻ này có quẻ nội là Chấn, quẻ ngoại là Đoài, là kim trên, mộc dưới, là quẻ “Trạch lôi tùy”.

Nên nhớ phải rằng bạn phải ghi kết quả theo đúng thứ tự tung đồng xu từ dưới lên trên để có thể giải quẻ chính xác nhất.

Sau khi lập được một quẻ kinh dịch bước tiếp theo là chúng ta cần an quẻ lục hào để tiến hành giải quẻ. Để lập an quẻ lục hào bạn cần thực hiện rất nhiều bước và phải có kiến thức chuyên môn tốt.

 II - GIEO QUẺ ÂM DƯƠNG

Theo quan niệm dân gian, vũ trụ được hình thành bởi hai yếu tố Âm – Dương. Vạn vật được phát triển tốt tương đều nhờ sự hài hoà kết hợp giữa âm dương. Bởi vậy việc cầu xin Âm Dương hoà hợp là ước muốn bao đời của con người. Đối với hình thức gieo quẻ đồng xu thì loại hình gieo quẻ xin âm dương được sử dụng nhiều nhất.

ý nghĩa việc gieo quẻ xin âm dương

Cách gieo quẻ âm dương lần này ta chỉ dùng 2 đồng xu cổ. Vẫn với quy ước Âm dương theo mặt đồng xu, mặt dương là mặt có chữ và mặt dương là mặt phẳng không chữ. Chuẩn bị bát đĩa làm công cụ gieo quẻ. Bạn dùng đĩa và bát úp đồng xu lên xóc đều. Trong tâm tập trung vào điều muốn hỏi với lòng thành khẩn. Bạn thả đồng xu ra và xem kết quả. Thông thường sẽ có 3 trường hợp xảy ra, dựa vào đó ta có thể luận được ý nghĩa của chúng như sau:

- Nếu cả 2 đồng xu đều sấp: Điều cần hỏi không được đồng ý và chấp thuận.

- Nếu cả 2 đồng xu đều ngửa: bạn vẫn chưa nhận được sự đồng ý, bề trên đang cười chê, hình như vấn đề đang có sự thiếu sót và phải xem xét.

- Nếu 1 đồng xu sấp, 1 đồng xu ngửa: Bạn có thể hiểu nghĩa là âm dương đã đồng nhất, điều bạn hỏi đã được sự chấp thuận bề trên.

Khi xin quẻ âm dương không được xin quá 3 lần. Nếu bạn gắng cưỡng cầu xin đến lần thứ tư thì quẻ đó không còn linh nghiệm, có cũng như không. Việc xin quẻ nhiều lần sẽ mất linh, kết quả thiếu tính chính xác.

Xin quẻ bằng đồng xu vẫn được xem là tín ngưỡng dân gian để củng cố niềm tin trong lòng mỗi người. Bạn không nên quá dựa vào kết quả, phán xét từ gieo quẻ để quyết định mọi việc và gây ảnh hưởng tới tâm lý, công việc. Đừng để hình thức này điều khiển suy nghĩ và hành động của bạn. Cách gieo quẻ bằng đồng xu ở bài viết trên thật đơn giản phải không. Mong rằng bạn sẽ  hiểu hơn về hình thức này và có cho mình một thái độ tích cực, làm chủ được lý trí và đức tin của mình.

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2022

Các Nhóm Quẻ Trong Kinh Dịch Thuộc Ngũ Hành

Quẻ kinh dịch được sắp xếp từ bát quái. Bát quái gồm có 8 quẻ đơn gồm: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Mỗi quẻ đơn lần lượt xếp thứ tự lên nhau thành quẻ kép tạo ra 64 quẻ, gọi là quẻ kinh dịch.

Xem thêm: 👉 64 QUẺ TRONG KINH DỊCH

Trong Dịch học người ta phân nhóm các quẻ theo Ngũ hành bản mệnh như sau:

Tám quẻ nhóm Càn Kim - Bản mệnh Kim:

Bát thuần Càn, Thiên phong Cấu, Thiên sơn Độn, Thiên địa Bĩ, Phong địa Quan, Sơn địa Bác, Hỏa địa Tấn, Hỏa thiên Đại hữu.

Tám quẻ nhóm Đoài Kim - Bản mệnh Kim:

Bát thuần Đoài, Trạch thủy Khốn, Trạch địa Tụy, Trạch sơn Hàm, Thủy sơn Kiển, Địa sơn Khiêm, Lôi sơn Tiểu quá, Lôi trạch Qui muội.

Tám quẻ nhóm Ly Hỏa - Bản mệnh Hỏa:

Bát thuần Ly, Hỏa sơn Lữ, Hỏa phong Đỉnh, Hỏa thủy Vị tế, Sơn thủy Mông, Phong thủy Hoán, Thiên thủy Tụng, Thiên hỏa Đồng nhân.

Tám quẻ nhóm Chấn Mộc - Bản mệnh Mộc:

Bát thuần Chấn, Lôi địa Dự, Lôi thủy Giải, Lôi phong Hằng, Địa phong Thăng, Thủy phong Tỉnh, Trạch phong Đại quá, Lôi trạch Tùy.

Tám quẻ nhóm Tốn Mộc - Bản mệnh Mộc:

Bát thuần Tốn, Phong thên Tiểu súc, Phong hỏa Gia nhân, Phong lôi Ích, Thiên lôi Vô vọng, Sơn lôi Di, Sơn phong Cổ.

Tám quẻ nhóm Khảm Thủy - Bản mệnh Thủy:

Bát thuần Khảm, Thủy trạch Tiết, Thủy lôi Truân, Thủy hỏa Ký tế, Trạch hỏa Cách, Lôi hỏa Phong, Địa hỏa Minh di, Địa thủy Sư.

Tám quẻ nhóm Cấn Thổ - Bản mệnh Thổ:

Bát thuần Cấn, Sơn hỏa Bí, Sơn thiên Đại súc, Sơn trạch Tổn, Hỏa trạch Khuê, Thiên trạch Lý, Phong trạch Trung phu, Phong sơn Tiệm.

Tám quẻ nhóm Khôn Thổ - Bản mệnh Thổ:

Bát thuần Khôn, Địa lôi Phục, Địa trạch Lãm, Địa thiên Thái, Lôi thiên Đại tráng, Trạch thiên Quải, Thủy thiên Nhu, Thủy địa Tỷ.

- Quy luật biến đổi nhóm quẻ thuộc ngũ hành:

cách biến 8 cung có quy luật chung : , trong quẻ đầu có hào dương thì biến thành hào âm ,và ngược lại . Cứ mỗi lần biến 1 hào sẽ được một tượng quẻ mới . mỗi cung tiến đến hào thứ 5 thì ngừng , hào thứ sáu không biến nữa . quẻ thứ 7 là do biến hào thứ 4 của quẻ thứ 6 mà ra .quẻ thứ 8 là do biến cả 3 hào 1,2,3 của quẻ thứ 7 mà ra

ví dụ :

quẻ càn 6 hào đều dương . khi biến bắt đầu từ :

háo 1 . hào đầu của quẻ càn từ dương biến thành âm , tức biến thành quẻ "thiên phong cấu ".

hào 2 của quẻ càn biến mà làm ra quẻ "thiên sơn độn "

hào 3 ......................................quẻ " thiên địa phủ "

hào 4 ......................................quẻ " phong địa quan "

hào 5 ......................................quẻ " sơn địa bác "

hào thứ 4 của quẻ " dơn địa bác " từ âm biến thành dương , biến ra "hỏa địa tấn "

các hào đầu , hào 2 , hào 3 của " hỏa địa tấn " đều là âm biến thành dương , làm thành quẻ" hỏa thiên đại hữu "

(đến đây 8 quẻ của cung càn đều đủ )

các cung khác cũng biến theo quy luật đó.

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2022

Cách Độn Quẻ Kinh Dịch

Bấm độn là một trong các yếu tố mang tính chất tâm linh bói toán, được sử dụng để tiên toán Thành-Bại, Cát-Hung của sự việc sẽ làm hoặc thời gian sắp tới và sự thay đổi trong vũ trụ xoay quanh 3 yếu tố Thiên-Địa Nhân.
Sau đây là cách bấm độn trên bàn tay để tìm Hào-Quẻ giúp các học giả có thể tự mình bấm độn được dựa trên bát quái và năm, tháng, ngày, giờ để tìm ra quẻ chủ và quẻ biến của 64 quẻ trong kinh dịch.
1. BÁT QUÁI
Bát quái là là 8 hình thái khác nhau gọi là 8 quẻ đơn, mỗi quẻ gồm có 3 hào đơn.
Quẻ kép gồm có hai quẻ đơn, đem các quẻ chồng lên nhau để tạo ra 64 hình thái khác nhau, gọi là 64 quẻ dịch.
Có hai loại bát quái đó là: Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái.


-Tiên Thiên Bát Quái được sắp xếp theo trật tự có tính đối xứng rõ ràng.
Trong Tiên Thiên Bát Quái, quẻ Càn (trên cùng) là số 1 , quẻ Khôn(dưới cùng) là số 8. Từ quẻ Càn (1) đếm ngược chiều kim đồng hồ, ta có: quẻ Đoài số 2, quẻ Ly số 3 và quẻ Chấn số 4Từ quẻ Càn (1) đếm thuận chiều kim đồng hồ, ta có:  quẻ Tốn số 5, quẻ Khảm số 6  và quẻ Cấn số 7.

-Hậu Thiên Bát Quái là các quẻ được đặt theo trình tự cùng chiều kim đồng hồ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
Quẻ Càn nằm ở góc tây bắc vì phương vị người xưa nghịch với ngày nay, trên Nam, dưới Bắc, trái Đông, phải Tây. Điều này dựa trên một mệnh đề của kinh dịch" Thuận thì tại, trái nghịch mâu thuẫn thì tiêu tán"
Quy ước của các số Bát Quái như sau: Càn là số  1, Đoài số 2,  Ly số 3 Chấn số 4Tốn số 5Khảm số 6 Cấn số 7 Khôn là số 8. 

Bát quái                                                      Số ca Bát quái / Hành
 : Càn: là tri, cha, có đc cng mnh, là đàn ông...             1 / Kim
 : Khôn: là đt, mẹ, có đc nhu thun, là đàn bà...                 8 / Th
 : Ly: là ha, con gái thứ, sáng...                                            3 / Ho
 : Khm: là thy, con trai thứ, him trở...                             6 / Thu
 : Cn: là sơn, con trai út, yên tĩnh...                                      7 / Th
 : Đoài) là trchm), con gái út, vui v...                            2 / Kim
 : Tn: là gió, con gái trưởng, dịu dàng, thông suốt...           5 / Mc
 : Chn: là sm, con trai trưởng, đng...                                4 / Mc

2. CÁC GIỜ THUỘC ĐỊA CHI

Tý ( 23h-1h ), Sửu ( 1h-3h ), Dần ( 3h- 5h ), Mão ( 5h- 7h ), 
Thìn ( 7h- 9h ), T ( 9h- 11h ), Ngọ (11h-13h), Mùi (13h-15h), 
Thân (15h-17h), Dậu (17h-19h.), Tuất (19h-21h),  Hợi (21h-23h).

3. PHÉP BẤM ĐỘN TRÊN BÀN TAY
Đây là phép bấm độn trên bàn tay để tìm hào và quẻ:
Người xưa khi cần kíp và không có phương tiện, thường dùng phép bấm độn để tìm hào và qu. Nhưng phép này kém ứng nghiệm hơn so với phép cỏ thi (thẻ tre) và gieo đồng tiền.

Đầu tiên đặt Hậu Thiên Bát Quái lên lòng bàn tay trái như hình v:




Giả sử, vào ngày 16 tháng 7 âm lịch, giờ Dậu, ta lấy quẻ.
1. Cách bấm độn:
Trước hết, ta tìm vị trí ở số 7 (tương ứng tháng 7) trên bàn tay trái. Vị trí đó là quẻ Khôn, lấy làm điểm khởi đầu. Ngày đầu của tháng là mồng 1. Đếm 1 (từ quẻ Khôn) cho tới số 16 theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ).Vị trí 16 nầy ứng với quẻ Ly. Ta có quẻ Ly là nội quái.
- Từ quẻ Ly ta đếm giờ khởi đầu là giờ Tý, rồi lần lượt tới  SửuDầnMão... cho tới  giờ Dậu (chiu kim đng h).Vị trí giờ Dậu này tương ứng với quẻ Khôn. Ta có quẻ Khôn là ngoại quái.
Chồng ngoại quái (Khôn: Địa) lên nội  quái (Ly: Hỏa) ta có quẻ Địa Hỏa Minh Di.


2. Cách tìm hào động.

Cộng số thứ tự của nội quái, ngoại quái lại,rồi chia cho 6 (số hào)
- Nếu chia cho 6 mà không có dư, như vậy hào động là hào 6
- Nếu số cộng mà nhỏ hơn 6 hoặc bằng 6 thì lấy ngay số đó làm hào động.
-Nếu chia cho 6 mà có dư. Ta lấy số dự đó là hào động.
Ở đây số của quẻ Ly là 3, số của quẻ  Khôn là 8.
Vậy tổng cộng 8 + 3 = 11, rồi lấy  11: 6 = 1 dư 5. Hào động là hào 5.
Bắt đầu đếm các hào từ dưới lên trên đến hào thứ 5 là hào âm, như vậy hào thứ 5 âm sẽ biến thành hào dương.
Ta có (quẻ Địa Hoả Mình Di) biến thành (quẻ Thủy Hỏa Ký Tế)



Trong trường hợp này, quẻ chủ (chínhchỉ vào thời hiện tại là khó khănphải che bớt cái ánh sáng của mình đi, kiên nhẫn chờ thời, chỉ hoạt động văn tài viết lách, Đó là quẻ xấu. Lời triệu (thoán t) là: " qua hà chiết cầu" nên chờ thời cơ tốt,

Quẻ tiếp là Thủy Hỏa Ký Tế lại là quẻ tốt, đó là việc đã xong, là quẻ tốt với lời triệu là: " kim bảng đề danh ".


***

Tóm lại phương pháp suy đoán dựa trên quẻ chỉ có tác dụng tham khảo về xu thế
và nói về những điểm chung nhất. Nó luôn căn dặn con người phải giữ lấy chính đạotrung thực, dũng cảm và biết nắm bắt thời cơ (hợp Thời). Tuyệt đối không được mang màu sắc mê tín dị đoan. Suy đoán về Dịch không nên cụ thể vào một việc nào đó, mà phải chú ý vào tổng thể. Nếu ai suy đoán theo thần thánh mê tín, họ sẽ làm biến đổi tinh thần của Dịch và như vậy không còn là  Dịch nữa.


Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

64 Quẻ Trong Kinh Dịch

1. Kinh Dịch Là Gì?
Kinh Dịch là hệ thống tư tưởng vĩ đại nghiên cứu dựa trên quy luật không đổi của tạo hóa, sự vận động của vạn vật, và sự biến đổi xoay quanh 3 yếu tố cốt lõi là Thiên – Địa – Nhân.

Kinh (經 jīng) có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng hoa có gốc gác từ "quy tắc" hay "bền vững", hàm ý rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hóa  không thay đổi theo thời gian.

Dịch (易 ) có nghĩa là "thay đổi" của những thành phần bên trong một vật thể nào đó mà trở nên khác đi.

Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này là rất sâu sắc. Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau:

  • Bất dịch - bản chất của thực thể. Vạn vật ở tại trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững - quy luật trung tâm - là không hề đổi theo không gian và thời gian.
  • Biến dịch - hành vi của mọi thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.
  • Giản dịch - thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không hề cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp.

Tóm lại:

Vì biến dịch, cho nên có sự sống.
Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống.
Vì giản dịch, nên con người có thể qui tụ mọi biến động sai biệt thành những quy luật để tổ chức đời sống xã hội.
Theo truyền thuyết, Kinh dịch được bắt nguồn từ thời vua Phục Hy (Trung Quốc). Trải qua hàng ngàn năm, Kinh dịch đã được bổ sung rất nhiều nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng tinh hoa một cách rõ ràng. Đồng thời, Kinh dịch được áp dụng vào nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, mệnh lý học, quân sự,…
2. 64 Quẻ Kinh Dịch
Quẻ kinh dịch là một trong những yếu tố mang tính chất tâm linh, bói toán. Trong đó, gieo quẻ kinh dịch là phương pháp tiên đoán kết quả thành - bại của việc sắp tới sẽ làm hoặc dự đoán hung - cát của thời gian sắp tới.


Quẻ 4: SƠN THỦY MÔNG 
Quẻ 5: THỦY THIÊN NHU 
Quẻ 6: THIÊN THỦY TỤNG 
Quẻ 7: ĐỊA THỦY SƯ 
Quẻ 8: THỦY ĐỊA TỶ 
Quẻ 9: PHONG THIÊN TIỂU SÚC 
Quẻ 10: THIÊN TRẠCH LÝ 
Quẻ 11: ĐỊA THIÊN THÁI 
Quẻ 12: THIÊN ĐỊA BĨ 
Quẻ 13: THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN  
Quẻ 14: HỎA THIÊN ĐẠI HỮU 
Quẻ 15: ĐỊA SƠN KHIÊM 
Quẻ 16: LÔI ĐỊA DỰ 
Quẻ 17: TRẠCH LÔI TÙY 
Quẻ 18: SƠN PHONG CỔ 
Quẻ 19: ĐỊA TRẠCH LÂM 
Quẻ 20: PHONG ĐỊA QUAN 
Quẻ 21: HỎA LÔI PHỆ HẠP 
Quẻ 22: SƠN HỎA BÍ 
Quẻ 23: SƠN ĐỊA BÁC 
Quẻ 24: ĐỊA LÔI PHỤC 
Quẻ 25: THIÊN LÔI VÔ VỌNG 
Quẻ 26: SƠN THIÊN ĐẠI SÚC 
Quẻ 27: SƠN LÔI DI 
Quẻ 28: TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ 
Quẻ 29: THUẦN KHẢM 
Quẻ 30: THUẦN LY 
Quẻ 31: TRẠCH SƠN HÀM 
Quẻ 32: LÔI PHONG HẰNG 
Quẻ 33: THIÊN SƠN ĐỘN 
Quẻ 34: LÔI THIÊN ĐẠI TRÁNG 
Quẻ 35: HỎA ĐỊA TẤN 
Quẻ 36: ĐỊA HỎA MINH DI 
Quẻ 37: PHONG HỎA GIA NHÂN 
Quẻ 38: HỎA TRẠCH KHUÊ 
Quẻ 39: THỦY SƠN KIỂN 
Quẻ 40: LÔI THỦY GIẢI 
Quẻ 41: SƠN TRẠCH TỔN 
Quẻ 42: PHONG LÔI ÍCH 
Quẻ 43: TRẠCH THIÊN QUẢI 
Quẻ 44: THIÊN PHONG CẤU 
Quẻ 45: TRẠCH ĐỊA TỤY 
Quẻ 46: ĐỊA PHONG THĂNG 
Quẻ 47: TRẠCH THỦY KHỐN 
Quẻ 48: THỦY PHONG TINH  
Quẻ 49: TRẠCH HỎA CÁCH
Quẻ 50: HỎA PHONG ĐỈNH 
Quẻ 51: THUẦN CHẤN 
Quẻ 52: THUẦN CẤN
Quẻ 53: PHONG SƠN TIỆM 
Quẻ 54: LÔI TRẠCH QUY MUỘI 
Quẻ 55: LÔI HỎA PHONG 
Quẻ 56: HỎA SƠN LỮ 
Quẻ 57: THUẦN TỐN 
Quẻ 58: THUẦN ĐOÀI 
Quẻ 59: PHONG THỦY HOÁN 
Quẻ 60: THỦY TRẠCH TIẾT 
Quẻ 61: PHONG TRẠCH TRUNG PHU 
Quẻ 62: LÔI SƠN TIỂU QUÁ 
Quẻ 63: THỦY HỎA KÝ TẾ 
Quẻ 64: HỎA THỦY VỊ TẾ 

Quẻ 1, 2, 5, 7, 8, 10, 11, 13, 14, 15, 16, 22, 26, 27, 28, 30, 31, 32, 34, 35, 37, 40, 42, 45, 46, 49, 50, 53, 55, 58, 59, 60, 61, 63
Quẻ 3, 4, 6, 12, 18, 23, 25, 33, 36, 38, 39, 43, 54, 64
Quẻ 9, 17, 19, 20, 21, 24, 29, 41, 44, 47, 48, 51, 52, 56, 57, 62


Thứ Tư, 19 tháng 10, 2022

Bát Môn Thần Khóa

BÁT MÔN THẦN KHÓA
KIM OANH KÝ

Soạn giả: Thái Kim Oanh

LỜI NÓI ĐẦU

Nhiều người nghe đến hai tiếng Bát Môn đều ham và muốn học, cũng như nghe nhắc đến tài của Khổng Minh, ai nào chẳng khen phục Khổng Minh là người sáng tác ra quẻ Bát Môn này.

Cũng lắm ông khó tánh như soạn giả không tin gì lắm, nhưng khi học qua được mới rõ quẻ tuy đơn giản mà ứng nghiệm.

Từ trước lắm ông chỉ chuyên nội quẻ Bát Môn cũng nổi tiếng đó đây, song nói là môn ruột thì đừng hòng các ông ấy chỉ lại cho ai. Có người gặp đặng quyển ấy lưu truyền, nhưng vấp phải Hán tự khó như Pháp văn, chẳng phải chữ đâu nghĩa đó theo lối Việt văn, nên cần phải hiểu rõ lý của nó.

Hơn nữa Hán văn còn bí mật hơn. Cả một bài dài thược mỗi câu gói ghém đầy bí mật lại chẳng phân câu, cho nên một bài mà mỗi lần đọc qua thấy nghĩa mỗi lần khác nhau.

Nên soạn giả giúp đủ tài liệu cho các bạn hiếu kỳ có được môn này trong tay mà kinh nghiệm cho thỏa.

Soạn giả cựu giáo viên Thái Kim Oanh

Thưa quý bạn

Theo sự kinh nghiệm nhận thấy:


1.- Ông chủ nhà nọ cung gì, nhà day cửa hướng đó kiết, hung?


2.- Lò bếp nhà ấy đặt chỗ kiết hay hung?

3.- Đường ra vào nhà ấy kiết, hung?

Kiết là nhà ấy được may mắn gì?
– Phu thê hòa hảo? Tài lợi hanh thông, công danh phát đạt, nhiều của, con đông v.v…

Hoặc phạm hung là nhà ấy lâm những tai vạ gì?

– Gia đạo bất hòa? Sản nghiệp suy vi, của làm không đậu, bệnh tật liên miên, con sanh khó dưỡng, thị phi trộm cắp, gãy gánh cang thường, nước sôi, lửa bỏng…?

Quan trọng nhất là cái bếp, nhà cửa dù phạm phương nguy hiểm, nhờ đặt lò bếp đúng chỗ để yểm trấn chư hung tất nhiên chuyển họa thành phước, ứng nghiêm như thần.

Bát quái suy lai huyền diệu lý,
Lục hào sưu tận quỷ thần cơ.

Bởi vậy các đấng tài cao từ xưa đã công nhận hai câu này.

Soạn giả: Thái Kim Oanh

BÁT MÔN THẦN KHÓA

Giờ Âm Lịch

Nhiều môn độn toán cần ghép giờ Âm lịch lúc người ta muốn xem mà định quẻ, lấy sai giờ thì quẻ đoán sai cả, đến việc chọn ngày giờ dùng cũng cần nhất là giờ Âm Lịch. Mỗi một ngày đêm là 12 giờ Âm lịch (hiệp đồng hồ). Bắt đầu từ giữa đêm là giờ Tý đến Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi giờ là hai tiếng đồng hồ. Giờ tháng trước sớm hoặc trễ hơn tháng sau những mười phút, đầu giờ Tý tháng Mười Một là 0 giờ 10 phút, đầu giờ Tý tháng Năm là 1 giờ 10 phút, sớm hoặc trễ cả một tiếng đồng hồ.

Xem kỹ: Đây là tính theo giờ Việt Nam


– Tháng Mười Một: đầu giờ Tý: 0 giờ 10 (đầu giờ Ngọ: 12 giờ 10).
– Tháng Mười và Chạp: đầu giờ Tý: 0 giờ 20 (đầu giờ Ngọ: 12 giờ 20).
– Tháng Giêng và Chín: đầu giờ Tý: 0 giờ 30 (đầu giờ Ngọ: 12 giờ 30).
– Tháng Hai và Tám: đầu giờ Tý: 0 giờ 40 (đầu giờ Ngọ: 12 giờ 40).
– Tháng Ba và Bảy: đầu giờ Tý: 0 giờ 50 (đầu giờ Ngọ: 12 giờ 50).
– Tháng Tư và Sáu: đầu giờ Tý: 1 giờ 00 (đầu giờ Ngọ: 13 giờ đúng).
– Tháng Năm: đầu giờ Tý: 1 giờ 10 (đầu giờ Ngọ: 13 giờ 10).

Bạn tinh ý một chút thì nhớ đặng khỏi cần dùng đến sách.
Từ tháng Mười Một thuận đến tháng Năm, mỗi tháng lên 10 phút và từ tháng năm đến tháng Mười Một, mỗi tháng sụt xuống 10 phút.

Bạn khởi trên tay tháng Mười Một tại Tý 0 giờ 10, tháng Chạp tại Sửu 0 giờ 20 đến tháng Năm tại Ngọ cũng 1 giờ 10. Từ tháng Năm đến tháng Mười Một sau, mỗi tháng cứ sụt xuống 10 phút là đúng.

ĐÂY LÀ BẢN GHI GIỜ ÂM LỊCH VỚI GIỜ VIỆT NAM

THÁNG MƯỜI MỘT:

– Tý: 00 giờ 10.
– Sửu: 02 giờ 10.
– Dần: 04 giờ 10.
– Mẹo: 06 giờ 10
– Thìn: 08 giờ 10.
– Tỵ: 10 giờ 10.
– Ngọ: 12 giờ 10.
– Mùi: 14 giờ 10.
– Thân: 16 giờ 1
– Dậu: 18 giờ 10.
– Tuất: 20 giờ 10.
– Hợi: 22 giờ 10.


THÁNG CHẠP:
– Tý: 00 giờ 20.
– Sửu: 02 giờ 20.
– Dần: 04 giờ 20.
– Mẹo: 06 giờ 20.
– Thìn: 08 giờ 20.
– Tỵ: 10 giờ 20.
– Ngọ: 12 giờ 20.
– Mùi: 14 giờ 20.
– Thân: 16 giờ 20.
– Dậu: 18 giờ 20.
– Tuất: 20 giờ 20.
– Hợi: 22 giờ 20.

THÁNG GIÊNG:
– Tý: 00 giờ 30.
– Sửu: 02 giờ 30.
– Dần: 04 giờ 30.
– Mẹo: 06 giờ 30.
– Thìn: 08 giờ 30.
– Tỵ: 10 giờ 30.
– Ngọ: 12 giờ 30.
– Mùi: 14 giờ 30.
– Thân: 16 giờ 30.
– Dậu: 18 giờ 30.
– Tuất: 20 giờ 30.
– Hợi: 22 giờ 30.

THÁNG HAI:
– Tý: 00 giờ 40.
– Sửu: 02 giờ 40.
– Dần: 04 giờ 40.
– Mẹo: 06 giờ 40.
– Thìn: 08 giờ 4o.
– Tỵ: 10 giờ 40.
– Ngọ: 12 giờ 40.
– Mùi: 14 giờ 40.
– Thân: 16 giờ 40.
– Dậu: 18 giờ 40.
– Tuất: 20 giờ 40.
– Hợi: 22 giờ 40.

THÁNG BA:
– Tý: 00 giờ 50.
– Sửu: 02 giờ 50.
– Dần: 04 giờ 50.
– Mẹo: 06 giờ 50.
– Thìn: 08 giờ 50.
– Tỵ: 10 giờ 50.
– Ngọ: 12 giờ 50.
– Mùi: 14 giờ 50.
– Thân: 16 giờ 50.
– Dậu: 18 giờ 50.
– Tuất: 20 giờ 50.
– Hợi: 22 giờ 50.

THÁNG TƯ:
– Tý: 01 giờ 00.
– Sửu: 03 giờ 00.
– Dần: 05 giờ 00.
– Mẹo: 07 giờ 00.
– Thìn: 09 giờ 00.
– Tỵ: 11 giờ 00.
– Ngọ: 13 giờ 00.
– Mùi: 15 giờ 00.
– Thân: 17 giờ 00.
– Dậu: 19 giờ 00.
– Tuất: 21 giờ 00.
– Hợi: 23 giờ 00.

THÁNG NĂM:
– Tý: 01 giờ 10.
– Sửu: 03 giờ 10.
– Dần: 05 giờ 10.
– Mẹo: 07 giờ 20.
– Thìn: 09 giờ 10.
– Tỵ: 11 giờ 10.
– Ngọ: 13 giờ 10.
– Mùi: 15 giờ 10.
– Thân: 17 giờ 10.
– Dậu: 19 giờ 10.
– Tuất: 21 giờ 10.
– Hợi: 23 giờ 10.

THÁNG SÁU:
– Tý: 01 giờ 00.
– Sửu: 03 giờ 00.
– Dần: 05 giờ 00.
– Mẹo: 07 giờ 00.
– Thìn: 09 giờ 00.
– Tỵ: 11 giờ 00.
– Ngọ: 13 giờ 00.
– Mùi: 15 giờ 00.
– Thân: 17 giờ 00.
– Dậu: 19 giờ 00.
– Tuất: 21 giờ 00.
– Hợi: 23 giờ 00.

THÁNG BẢY:
– Tý: 00 giờ 50.
– Sửu: 02 giờ 50.
– Dần: 04 giờ 50.
– Mẹo: 06 giờ 50.
– Thìn: 08 giờ 50.
– Tỵ: 10 giờ 50.
– Ngọ: 12 giờ 50.
– Mùi: 14 giờ 50.
– Thân: 16 giờ 50.
– Dậu: 18 giờ 50.
– Tuất: 20 giờ 50.
– Hợi: 22 giờ 50.

THÁNG TÁM:
– Tý: 00 giờ 40.
– Sửu: 02 giờ 40.
– Dần: 04 giờ 40.
– Mẹo: 06 giờ 40.
– Thìn: 08 giờ 40.
– Tỵ: 10 giờ 40.
– Ngọ: 12 giờ 40.
– Mùi: 14 giờ 40.
– Thân: 16 giờ 40.
– Dậu: 18 giờ 40.
– Tuất: 20 giờ 40.
– Hợi: 22 giờ 40.

THÁNG CHÍN:
– Tý: 00 giờ 30.
– Sửu: 02 giờ 30.
– Dần: 04 giờ 30.
– Mẹo: 06 giờ 30.
– Thìn: 08 giờ 30.
– Tỵ: 10 giờ 30.
– Ngọ: 12 giờ 30.
– Mùi: 14 giờ 30.
– Thân: 16 giờ 30.
– Dậu: 18 giờ 30.
– Tuất: 20 giờ 30.
– Hợi: 22 giờ 30.

THÁNG MƯỜI:
– Tý: 00 giờ 20.
– Sửu: 02 giờ 20.
– Dần: 04 giờ 20.
– Mẹo: 06 giờ 20.
– Thìn: 08 giờ 20.
– Tỵ: 10 giờ 20.
– Ngọ: 12 giờ 20.
– Mùi: 14 giờ 20.
– Thân: 16 giờ 20.
– Dậu: 18 giờ 20.
– Tuất: 20 giờ 20.
– Hợi: 22 giờ 20.

NGŨ HÀNH

Ngũ Hành Tương Sanh:

Năm hành sanh nhau: Kim sanh Thủy, Thủy sanh Mộc, Mộc sanh Hỏa, Hỏa sanh Thổ, Thổ sanh Kim.

Vì lẽ này: Loại Kim rĩ ra nước gọi là Kim sanh Thủy. Có nước êm mát mọc lên cây cỏ gọi là Thủy sanh Mộc. Cây kéo ra lửa gọi là Mộc sanh Hỏa. Lửa đốt các vật hườn đất gọi là Hỏa sanh Thổ. Lòng đất chứa các laọi Kim gọi là Thổ sanh Kim. Nhớ kỹ, chớ nói khác là sai.

Ngũ Hành Tương Khắc:

Năm hành khắc kỵ nhau: Kim khắc Mộc, bởi búa rìu đốn chết cây. Mộc khắc Thổ, bởi cây cỏ mọc xấu đất. Thổ khắc Thủy bởi đất ngăn được nước. Thủy khắc Hỏa, bởi nước dập tắt lửa. Hỏa khắc Kim, bởi lửa nấu cháy các loại Kim. Và cũng chớ nói ngược Hỏa khắc Thủy là sai v.v…

NGŨ HÀNH VƯỢNG TƯỚNG

Đương sanh giả vượng. Ngã sanh giả tướng. Sanh ngã giả hưu, Ngã khắc giả tử. Khắc ngã giả tù.

Tỷ như mùa Xuân thuộc Mộc xem gặp quẻ Mộc gọi là đương sanh giả vượng là tốt. Mùa Hạ thuộc Hỏa, xem gặp quẻ Mộc, tức là Mộc sanh Hỏa gọi là ngã sanh giả tướng, tốt. Mùa Thu thuộc Kim gặp quẻ Mộc, tức là Kim khắc Mộc gọi là khắc ngã giả tù, xấu. Mùa Đông thuộc Thủy gặp quẻ Mộc, tức Thủy sanh Mộc gọi là sanh ngã giả hưu, phải trễ nải.


Tứ quí là tháng Ba, Sáu, Chín và Chạp thuộc Thổ gặp quẻ Mộc, tức Mộc khắc Thổ gọi là ngã khắc giả tử, xấu. Các quẻ hành khác do theo đó mà luận.

BỐN MÙA VƯỢNG TƯỚNG
(Thêm rộng nghĩa)

Mùa Xuân: tháng Giêng, Hai thuộc Mộc: thì hành Mộc vượng, Hỏa tướng, Thủy hưu, Kim tù, Thổ tử.
Mùa Hạ: tháng Tư, Năm thuộc Hỏa: thì hành Hỏa vượng, Thổ tướng, Mộc hưu. Thủy tù, Kim tử.
Mùa Thu: tháng Bảy, Tám thuộc Kim: thì hành Kim vượng, Thủy tướng, Thổ hưu, Hỏa tù, Mộc tử.
Mùa Đông: tháng Mười, Mười Một thuộc Thủy: thì hành Thủy vượng, Mộc tướng, Kim hưu, Thổ tù, Hỏa tử.
Tứ quí: tháng Ba, Sáu, Chín, Chạp thuộc Thổ: thì hành Thổ vượng, Kim tướng, Hỏa hưu, Mộc tù, Thủy tử.
Được vượng tướng tốt, hưu tầm thường, tử tù xấu.


MƯỜI THIÊN CAN THUỘC NGŨ HÀNH

– Giáp Ất thuộc Mộc.
– Bính Đinh thuộc Hỏa.
– Mồ Kỷ thuộc Thổ.
– Canh Tân thuộc Kim.
– Nhâm Quý thuôc Thủy.

Đọc xuôi: Giáp Ất Bính Đinh Mồ Kỳ Canh Tân Nhâm Quý.


MƯỜI HAI ĐỊA CHI THUỘC NGŨ HÀNH

– Hợi Tý thuộc Thủy.
– Dần Mẹo thuộc Mộc.
– Tỵ Ngọ thuộc Hỏa.
– Thân Dậu thuộc Kim
– Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ.


Đọc xuôi: Tý Sửu Dần Mẹo Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi.


TAM HẠP

– Hợi Mẹo Mùi. – Tỵ Dậu Sửu. – Thân Tý Thìn. – Dần Ngọ Tuất.

LỤC HẠP

Hạp: – Tý Sửu. – Dần Hợi. – Mẹo Tuất. – Thìn Dậu. – Tỵ Thân. – Ngọ Mùi. Là lục hạp.

TỨ HÀNH XUNG


Xung: – Tý Ngọ Mẹo Dậu. – Thìn Tuất Sửu Mùi. – Dần Thân Tỵ Hợi.


LỤC XUNG

Xung: Tý Ngọ. – Sửu Mùi. – Dần Thân. – Mẹo Dậu. – Thìn Tuất. – Tỵ Hợi. Là lục xung.

LỤC HẠI

Hại: Tý Mùi. – Sửu Ngọ. – Dần Tỵ. – Mẹo Thìn. – Hợi Thân. – Tuất Dậu. Là lục hại.


BÁT QUÁI

Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.


BÁT TƯỢNG BÁT QUÁI
_____
_____
_____

Càn tam liên. Tam liên là ba vạch liền, thuộc Kim hướng Tây Bắc Tuất Hợi. Cai quản tháng Chín, Mười sắc trắng, thuộc số 6 gọi là lục Càn.


__  __
_____
__  __

Khảm trung mãn. Trung mãn là vạch giữa liền, thuộc Thủy hướng chánh Bác Tý. Cai quản tháng Mười Một, sắc đen, thuộc số 1 gọi là nhứt Khảm.


_____
__  __
__  __

Cấn phúc quản. Phúc quản là giống hình chậu úp, thuộc Thổ hướng Đông Bắc Sửu Dần. Cai quản tháng Chạp, Giêng, sắc vàng, thuộc số 8 gọi là bát Cấn.

__  __
__  __
_____

Chấn ngưởng bồn. Ngưởng bồn là tượng hình chậu ngửa, thuộc Mộc hướng chánh Đông Mẹo. Cai quản tháng Hai, sắc xanh, thuộc số 3 gọi là tam Chấn.


_____
_____
__  __

Tốn hạ đoạn. Hạ đoạn là hào dưới đứt đoạn, thuộc Mộc hướng Đông Nam Thìn Tỵ. Cai quản tháng Ba, Tư, sắc xanh, thuộc số4 gọi là tứ Tốn.


_____
__  __
_____

Ly trung hư. Trung hư là hào giữa đứt đoạn, thuộc Hỏa hướng chánh Nam Ngọ. Cai quản tháng Năm, thuộc số 9 gọi là cửu Ly.


__  __
__  __
__  __

Khôn lục đoạn. Lục đoạn là sáu hào đứt đoạn, thuộc Thổ hướng Tây Nam Mùi Thân. Cai quản tháng Sáu, Bảy, sắc huỳnh, thuộc số 2 gọi là nhì Khôn.


__  __
_____
_____

Đoài thượng khuyết. Thượng khuyết là trên đứt đoạn, thuộc Kim hướng chánh Tây Dậu. Cai quản tháng Tám, sắc trắng, thuộc số 7 gọi là thất Đoài.

Bài này học thuộc kỹ hay dùng đến.

CỬU CUNG BÁT QUÁI

Nhứt Khảm, nhì Khôn, tam Chấn, Tứ Tốn, ngũ Trung, lục Càn, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly, là số của chín cung.


BÁT MÔN ĐẠI ĐỘN LUẬN

Bát môn vốn là Bát quái biến ra khởi thuận hành mỗi cung một vị, tại Khảm thuận hành là: Hưu, sanh, thương, đổ, kiển, tử, kinh, khai.
Hưu tại Khảm, Sanh tại Cấn, Thương tại Chấn, Đổ tại Tốn, Kiển tại Ly, Tử tại Khôn. Kinh tại Đoài, Khai tại Càn.

Cách Độn Quẻ:




Tháng Giêng khởi tại Cấn, tháng 2, 3 tại Chấn, tháng 4 tại Tốn, tháng 5, 6 tại Ly, tháng 7 tại Khôn, tháng 8, 9 tại Đoài, tháng 10 tại Càn, tháng 11, 12 tại Khảm.
Xem kỹ các tháng: 1, 4, 7, 10 mỗi tháng chiếm một cung. Còn bốn cung nọ mỗi cung chiếm hai tháng.
Vậy là tháng nào cung nấy nhất định, trên tháng khởi ngày, trên ngày khởi giờ Tý đến giờ khách đến xem cửa nào lấy cửa đó đoán quẻ.


Giả như ngày mùng 8 tháng giêng, giờ Thân có khách lại coi quẻ. Tháng Giêng tại Cấn, trên tháng khởi ngày là ngày mùng một tại Cấn, thuận hành mỗi cung, mùng hai tại Chấn, mùng ba tại Tốn… đến mùng tám tại Khảm. Trên ngày khởi giờ là giờ Tý tại Khảm, giờ Sửu tại Cấn, giờ Dần tại Chấn… đến giờ Thân tại Khảm là cửa Hưu, lấy quẻ hưu mà đoán.

Nếu họ cầu công danh thì đoán quẻ Hưu nơi bài Công Danh, bằng họ xem cầu tài thì đoán quẻ Hưu tại bài Cầu Tài là đúng.


BÁT MÔN PHÚ CHƯỞNG

Luận từ Thái Cực sơ phân,
Âm dương nhị khí xoay vần lưỡng nghi.
Lập thành Bát quái định vi,
Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Không Đoài.
Mới sanh từ thử dĩ lai,
Tỏ đặng lòng trời thông sự quốc gia.
Lập làm Bát quái truyền ra,
Sửa sang việc nước, việc nhà cho an.
Kiết hung mỗi sự, mỗi tàng,
Ngũ hành phân xét liệu toan tỏ bày.
Chỉ xem tám vị ngón tay,
Biết lẽ trời đất chuyển xoay dữ lành.
Màn chi Quỉ Cốc tiên sanh,
Màn chi đại định, võ kinh kỳ cầm.
Màn chi Đại độn Lục nhâm,
Màn chi huyền mạng nham nhâm toàn đồ.
Màn chi Du Lỗi nhị đô,
Màn chi lịch phụ thông thơ pháp mầu.
Việc đời đại sự đổi thay,
Rủi may đâu dễ nào ai biết tình.
Đời Đường Lý Tịnh tiên sinh,
Đại Hớn Gia Cát Khổng Minh dạy truyền.
Sanh môn tại Cấn tháng Giêng,
Cai nội danh gọi đặt lên cung Dần.
Tháng Hai, tháng Ba mẹo cung,
Thương Môn tại Chấn là trung nội tù.
Tháng Tư thuận tiến một ngôi,
Đổ môn cung Tốn vậy thời khởi đi.
Tháng Năm, tháng Sáu thuộc Ly,
Kiển môn tại Ngọ vậy thì cho thông.
Tháng Bảy thì khởi tại Khôn,
Tử môn là hiệu cho thông cai ngoài.
Tháng Tám, tháng Chín khơi Đoài,
Kinh môn tháng ấy trong ngoài phân minh.
Tháng Mười tại Càn đinh ninh,
Khai môn đó gọi là nơi Kim ngoài.
Tháng Một, tháng Chạp vừa hai,
Khởi ngay tại Khảm thiệt bài Hưu môn.
Tám cửa tìm khởi đã xong,
Ngày giờ cho biết kẻo còn hồ nghi.
Tháng nào mùng một khởi đi,
Ngày đâu giờ đó tức thì cứ tra.
Tý Ngọ Mẹo Dậu vậy là,
Ấy thật quẻ nhứt chẳng ngoa an bài.
Thìn Tuất Sửu Mùi quẻ hai,
Bán hung, bán kiết vậy thời kể ra.
Dần Thân Tỵ Hợi quẻ ba,
Muôn việc chẳng hòa chỉnh thiệt xấu thay.


… Giả như: chánh ngoạt, thập lục nhật, Thân thời hữu nhơn lại chiếm sự, ngô điểm thỉ tất… Tài kiến nam nhơn lai chiếm mổ sự ư thử thời. Ngô thị như tiền, chiếm thập lục nhựt, Thân thời tại Khảm, tắc ngô điểm tại Khảm, nghịch tầm ngũ dương tại Ly tức dĩ Kiển môn suy chi. Nữ tấm tam âm thời điểm nhất nhì tam, tức đoạn Kiển, Tử, Kinh, dĩ Kinh nghi dụng… (Tạm dịch: Trường hợp có ba người đến cùng giờ xem quẻ. Như tháng Giêng, ngày 16 giờ Thân. Người nào cũng điểm theo thường lệ, khởi tháng Giêng tại Sanh, trên tháng khởi ngày là điểm mùng một tại Sanh, mùng hai tại Thương, mùng Ba tại Đổ… tiếp đến mười sáu tại Hưu. Trên ngày khởi giờ là điểm giờ Tý tại Hưu, Sửu tại Sanh, Dậu tại Thương… đến giờ Thân tại Hưu, dùng cửa hưu mà đoán.

Kế đến lượt xem tiếp quẻ nhì cho đàn ông. Vẫn điểm theo ngày tháng giờ như trước là quẻ thuộc cửa Hưu, nhưng quẻ sau xem cho đàn ông thì phải nghịch tầm ngũ dương là từ cửa Hưu đếm ngược lại đến cung thứ năm nhằm cửa Kiển, dùng quẻ Kiển mà đoán.

Lại xem tiếp một quẻ cho đàn bà, cũng toán như trên là dùng cửa Kiển của quẻ trước, xem cho đàn bà thì tấn tam âm là tiến dụng ba cung, đếm Kiển là một, Tử là hai, Kinh là ba, dùng Kinh môn mà đoán…

Nhứt Khảm, nhì Khôn, tam Chấn tứ Chấn, ngủ Trung, lục Càn, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly…

– Càn vi trưởng phụ, Khảm vi trung trưởng. Cấn vi tiểu nam.
– Chấn vi trưởng nam. Tốn vi trưởng nữ, Ly vi trung nữ.
– Khôn vi trưởng nữ, Đoài vi tiểu nữ.
– Nhứt lý vi thập bộ. Thập lý vi bá bộ.


Giả như: Càn thị Khai môn soát lục đoạn, lục bộ. Cận tắc đoán bộ, viễn tắc đoán lý, kỳ dư phóng thử.

Tạm dịch: Có người bị mất trộm nhờ xem của đi gần xa. Ví dụ toán gặp quẻ cửa Khai. Khai tại Càn cung là quẻ lục Càn, gần là sáu bước, sáu dặm (một dặm mười bước), xa thì sáu trăm thước hoặc sáu cây số.

Hỏi về phía nào? Càn tam liên Tây Bắc Tuất Hợi là của đi về hướng Tây Bắc.

Hỏi ai chủ mưu? Càn vi trưởng phụ. Cứ quẻ Càn mà đoán. Hỏi tầm kẻ gian được không? Giả như chiếm Bổ Tróc (bắt kẻ gian nhơn), giao thương các loại. Dĩ nhựt vi nhơn, dĩ thời vi tặc. Nhựt khắc thời tức đắc. Lấy ngày làm chủ, lấy giờ làm kẻ gian. Ngày khắc giờ thì đặng. Ví dụ quẻ xem ngày Tỵ hay Ngọ thuộc Hỏa, giờ Thân thuộc Kim, Hỏa khắc Kim tức là ngày khắc giờ, đặng tốt vậy.


Hoặc hỏi lâu mau sẽ tìm đặng? Nhựt vi nội, thời vi ngoại, ngoại khắc nội tắc tốc. Nội khắc ngoại tắc trì…

Vượng tướng tắc tốc, hưu tù tắc trì. Giờ khắc ngày thì mau, ngày khắc giờ thì chậm, quẻ vượng tướng thì mau, hưu tù ắt chậm. 

CHIẾM CÔNG DANH: HÔN NHÂN
(Cưới gả)

Hưu tắc tiền sum, hậu tắc ly,
Sanh tăng phú quý, khánh lộc tùy.
Thương tiềm chiếm hậu hòa hiệp,
Đổ tắc nam Tần, nữ Việt bi…
Kiển tắc trung ngoạt phân phi cách,
Tử lai bán lộ biệt mông thùy.
Kỉnh phòng cô độc sầu tan sự,
Khai phát vinh hoa chỉ lưỡng thì.


CHIẾM CẦU TÀI
(Đi buôn)

Hưu tất cầu tài bất kiến tài,
Sanh du vô vọng đắc tương lai.
Thương đa khẩu thiệt tất lai thiểu,
Đổ trì danh lợi nể phản hài.
Kiến tắc bán đồ (giữa đường) phùng đại lợi,
Tử phùng hớn xứ khủng bi tai.
Kinh cấp khúc sàng nhi chỉ phúc,
Khai kỳ hân hoan lợi tấn tài.


CHIẾM HỮU NHƯ HÀ SỰ
(Coi chuyện làm thế nào?)

Bằng ai cầu sự chiếm lời,
Hưu môn cửa ấy việc thời còn lâu.
Sanh môn cửa ấy tốt mầu,
Tự gót những đầu toàn sự tốt thay.
Thương môn Hợi Sửu ngày rày,
Đổ môn cách trở lầm thay nhiều đàng.
Kiển môn cửa ấy gian nan,
Tử môn trăm việc mưu toan chẳng lành.
Kinh môn làm chỉnh khó mình,
Sự đắc âu lẽ đinh ninh lo phiền.
Khai môn việc ấy phải nên,
Chiếm được quẻ ấy vẹn tuyền thủy chung.


VIỄN HÀNH HÀ NHƯ
(Coi người đi xa)

Này là cầu sự đã cùng,
Kẻ còn hành viễn kiết hung chưa tàng (tường).
Hưu môn còn trở nhiều đàng,
Sanh môn vô sự bình an trở về.
Thương môn còn trở nhiều bề,
Đổ môn gặp phải gian nguy giữa đàng.
Kiển môn lòng đến vội vàng,
Tử môn còn biệt xa đàng chẳng sai.
Kinh môn tin tức chưa tường,
Khai môn về đến quê hương gần nhà.


CHIẾM THẤT VẬT
(xem mất của)

Viễn hành sự ấy đã qua,
Còn phương thất vật kể ra tức thì.
Hưu môn của ấy mất đi,
Sanh môn của mất tại Ly khỏi nhà.
Thương môn của mất chẳng ngoa,
Trông tin truyền giữ thật là uổng công.
Đổ môn tin tức chẳng thông,
Của sau mới đặng thửa trong lộ đồ.
Kiển môn của mất đừng lo,
Kẻ gian nó sợ trả cho tận mình.
Tử môn của mất vắng tanh,
Tìm đâu ra đặng thôi đành bỏ đi.
Kinh môn tầm về phương Tây,
Người ngoài đã lấy tầm đây chẳng còn.
Khai môn cửa ấy vững lòng,
Của sau gặp gỡ luận bàn mà ra.


CHIẾM GIAI NHÂN
(Coi gái đẹp)

Mấy lời thất vật đã qua,
Còn phương xuân sắc xem ra quẻ gì?
Bằng xem du hí nữ nhi,
Biết chân lành dữ nó chê? Nó dùng?
Nữ nhi là nhựt nguyệt song,
Hưu môn còn trở chớ dùng, chớ toan.
Sanh môn thì đặng hiệp loan,
Thương môn thì khá lo toan mặc lòng.
Đổ môn lòng nó sạch không
Kiển môn tất đặng má hồng phủ phê.
Tử môn ta chớ nên đi,
Ắt là có sự gian nguy đến mình.
Kinh môn xạ liệt đinh ninh,
Khai môn thì đặng yến anh giao hòa.


CHIẾM NÀNG CÓ CHỒNG CHĂNG?

Này đoạn nàng gả ở nhà,
Chồng con đã có hay là nằm không?
Hưu môn nó đã có chồng,
Công tư, thầy thợ nào không đâu là.
Sanh môn chồng nó ở nhà,
Điền viên canh chưởng vậy mà chẳng không.
Thương môn đã ba đời chồng,
Hiện giờ ả lại nằm không một mình.
Đổ môn nàng hãy còn trinh,
Kiển môn chồng ả bạc tình phụ vong.
Tử môn ả chẳng lấy chồng,
Kinh môn nàng hỡi ở không vậy mà.
Khai môn chồng ả phú gia,
Là người chức phận vinh hoa sang giàu.


CHIẾM BỊNH

Này đoạn chiếm bệnh càng mầu,
Hưu môn đoán thác lòng sầu thiết tha.
Sanh môn chẳng thác đâu là,
Thương môn mắc nạn nào qua bệnh này.
Đổ môn bệnh chẳng thác rày,
Kiển môn bệnh ấy nay mai an lành.
Tử môn khó kiếm trường sanh,
Dầu ông Biển Thước cứu mình chẳng qua.
Kinh môn bệnh trong nguy đa,
Mà gặp người cứu cũng qua bệnh này.
Khai môn cửa ấy tốt thay,
Bệnh một đôi ngày thang thuốc lại an.


BỔ TRÓC
(Coi bắt gian phi)

Bằng xem tìm bắt kẻ gian,
Hưu môn khó thể kiện toàn vẹn tinh.
Sanh môn cửa ấy dễ tìm,
Người gian bắt đặng quả y như lời.
Thương môn tin đã thiệt nơi,
Dầu cho muốn bắt cậy người mới nên.
Đổ môn không kiếm nghe tin,
Kiển môn tìm đặng ngay thành thiệt hay.
Tử môn nào có ra gì,
Gian nhơn bắt thác bằng nay không còn.
Kinh môn nó cách nước non,
Ví dầu tìm kiếm nhọc lòng uổng công.
Khai môn ta chớ trông mong,
Tin đưa thất thiệt nhọc lòng hỏi han.


CHIẾM DU HÝ THA NHƠN
(Coi đến nhà người ta)
Ấy phương bổ tróc đã an,
Còn phương du hý lại toan tức thời.
Bằng ta muốn đến nhà người,
Hoặc là sầu tủi, vui cười làm sao?
Hưu môn đi chẳng gặp nhau,
Chủ nhân đi khỏi ở đâu chưa về.
Sanh môn vui vẻ nhiều bề,
Đi thì gặp mặt nào hề lại không.
Thương môn chủ đã đi rong,
Dầu ta có đến cũng không có nhà.
Đổ môn đi gặp giao ca,
Kiển môn chủ lại ở nhà vừa đi.
Tử môn chủ mắc gian nguy,
Bận lo gia sự chớ đi mà sầu.
Kinh môn chủ không đi đâu,
Khai môn gặp mặt chào nhau vui mừng.


CHIẾM CHIẾN ĐẤU

Còn phương chiến đấu nên phân,
Hưu môn đánh giặc mười phần mạnh thay.
Sanh môn đắc thắng ngày rày,
Thương môn đánh giặc khổ thay lụy mình.
Đổ môn chớ khá xuất binh,
Kiển môm chớ đánh, bế thành mới nên.
Tử môn bất lợi đôi bên,
Ví dầu xuất trận không tuyền cánh quân.
Kinh môn giặc mạnh bội phần,
Ta đừng xuất trận tướng quân khốn rày.
Khai môn giờ ấy tốt thay,
Đem binh phá trận ngày rày thành công.
Sự đời chép để khôn cùng,
Lưu cho hậu thế để dùng nghiệm xem.


CHIẾM THẤT VẬT ĐẮC PHỈ
(Coi của kiếm đặng chăng?)

Hưu: Nam nhân thủ đắc.
Sanh môn bất đắc tín thiệt.
Thương: Lưu truyền nam nhân bất đắc.
Đổ: Trì đắc ngộ tín nữ nhơn bán lộ.
Kiển: Nan tầm, lão phụ (bà lão).
Tử: Nam nữ đồng đạo tầm bất đắc.
Kinh: Hữu tín truyền đắc nữ nhân tại viễn phương.
Khai: Bất đắc, lão nhơn.


CHIẾM DẠ HỮU ĐẠO TẶC
(Coi đêm sẽ có trộm cắp chăng?)

Hưu: Kỵ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nhật. Tý, Ngọ thời.
Sanh: Kỵ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu nhật, Đông Bắc phương Hợi, Tý thời.
Thương: Kỵ Dần, Thân, Tỵ, Hợi nhật, Đông Nam phương Hợi, Tý thời.
Đổ: Kỵ Mẹo, Dậu, Hợi, Tỵ nhật, Đông phương hữu đạo tặc Hợi Tý thời.
Kiển: Kỵ Tý, Ngọ nhật, Nam phương Tý, Sửu thời.
Tử môn: tắc vô gian đạo. Bất đắc.
Kinh môn: Kỵ Mẹo, Dậu nhật. Tý, Thìn thời.
Khai môn: Kỵ Tuất, Hợi nhật, Bắc phương Tý, Thìn thời.


CHIẾM THẤT VẬT HÀ PHƯƠNG

Hưu: Chánh Bắc phương, cận giang hà chi sở.
Sanh: Đông Bắc phương tại thương cơ chi sở.
Thương: Chánh Đông phương tại viên hậu lâm lộc chi sở.
Đổ: Đông Nam phương tại dã khoáng thảo khu chi sở.
Kiển: Chánh Nam phương tại lư gian, văn chương chi thất.
Tử: Tây Nam phương tại tang phục tật bệnh chi thất.
Kinh: Chánh Tây tại từ miếu phần mộ chi sở.
Khai Tây Bắc phương tại quờn chức y tạ.


CHIẾM BỔ ĐẠO ĐẮC PHỈ
(Coi bắt kẻ trộm)

Hưu môn: Trực gian.
Sanh môn: Tốc đắc.
Thương môn: Đắc hỷ tín.
Đổ môn: Đào khứ.
Kiển môn: Tốc đắc.
Tử môn: Bất kiến.
Kinh môn:… Khai môn: Tái hồi vô công.


CHIẾM LỤC SÚC THẤT TẦM ĐẮC PHỈ
(Coi mất thú vật tìm đặng không?)

Hưu tốc đắc tại chánh Bắc.
Sanh trì bất đắc tại Đông Bắc.
Thương bất kiến chánh Đông.
Đổ tốc đắc tại Đông Nam.
Kiển đắc tại Nam phương.
Tử vật dĩ tử tại Tây nam phương (chết).
Kinh đắc tại Tây Nam phương.
Khai khứ Tây Nam kiết.

CHIẾM THẤT HÀ VẬT
(Coi mất món gì?)

Hưu kim ngân tài vật.
Sanh kim ngân đồng vật.
Thương ngưu mã tịnh sanh vật.
Đổ tơ lụa đồng vật.
Kiển trung mao kinh thơ vật.
Tử bố ngạn ngũ cốc vật.
Kinh ngưu mã kim vật.
Khai châu bảo tài vật.


CHIẾM THẤT VẬT NAM NỮ HÀ NHƠN
(Bài này ngoài Bát Môn)


– Càn, Khảm, Cấn, Chấn, thị nam tử.
– Tốn, Ly, Khôn, Đoài, thị nữ nhi.

Ngày Tý mất của là người đàn ông, không lớn không nhỏ, lấy về phía Nam, giờ lưu sang phương Bắc gần nhà, tìm ngay còn được, qua 17 ngày thì mất.

Ngày Sửu mất của là đứa con trai cao lớn mạnh dạn, mặt đỏ da đen tóc ngắn lấy đem dấu ở phía Tây, kíp tầm bắt đặng, lâu thì mất.

Ngày Dần mất của là người đàn ông không cao, không thấp, da ngâm ngâm không đen không trắng, mắt đỏ tóc ngắn, lấy dấu phía Đông Bắc, cần kíp theo dõi buộc thề nguyền, hăm dọa thì đặng.

Ngày Mẹo mất của là người đàn ông mặt đỏ, tóc ngắn, da đen, không mập không ốm, lấy dấu phía Đông Bắc gần gốc cây, không sâu không cạn, có người sẽ cho biết, tìm lâu thì gặp.

Ngày Thìn mất của là đứa con mét ốm cao đứa, tóc xanh, xúi đứa con gái lấy dấu trên cây rồi đem đi xa, bắt thề ra mối.

Ngày Tỵ mất của là con gái ở trong nhà, tầm thước mặt gầy, tóc ngắn, lấy dấu dưới cội cây phía Tây, chuyện đổ vỡ nó lại dời đi phía Đông Nam gần nhà, tìm thì gặp.

Ngày Ngọ mất của là đứa con trai mưu sự với đứa con gái lấy dấu nơi phía Đông, rồi lại dời sang phía Tây Bắc, hình nó mặt đỏ tóc ngắn, không ốm không mập, cậy người ta dỗ nó, trễ quá hạn bảy ngày thì mất.


Ngày Mùi mất của là đứa con gái lấy dấu phía Tây Nam, bị động ổ, nó lại dời về phía Nam, hình dáng đứa tóc hoe, mặt đỏ, tìm tòi rất khó.

Ngày Thân mất của là bị người con trai lấy dấu bên phía Tây, cậy người đàn bà dỗ hỏi đặng, đứa ấy mặt sáng, tóc ngắn và lợi khẩu.

Ngày Dậu mất của là đứa thiếu nữ lấy dấu phía Nam hoặc phía Bắc gần nước, đứa dong dõng, không đen không trắng, không mập không ốm, mặt rộng, tóc ngắn, theo dõi tìm kỹ thì ra.

Ngày Tuất mất của là con gái bày mưu cho người con trai lấy dấu phía bắc. Người lấy lùn có ngang, không đen không trắng, tìm mau thì còn, diên trì thì mất.

Ngày Hợi mất của là người thân nhân trong nhà, đứa con trai với đứa con gái a tỳ lấy đem phía Tây dấu gần nơi có nước. Đứa lấy mặt nhỏ dài, không đen không trắng. Trong chín ngày sẽ có tin tìm được.

CHIẾM TƯỢNG HÀ VẬT CHÍ
(Coi món gì đưa đến)

Hưu: ngưu hàm vật.
Sanh: Sanh vật chí.
Thương: Hoa quả chí.
Đổ: Ngũ cốc vật.
Kiển: Quả la tư vật.
Tử: Thực vật tửu chí.
Kinh: Kim ngân đồng vật.
Khai: Ngũ trúc vật.


CHIẾM PHONG TRUNG HÀ VẬT
(Coi trong buồng có vật gì?)

Hưu: Đồng lục bạch tứ tiền bạch.
Sanh: Đồng ngũ bạch tam tiền.
Thương: Đồng bát bạch tam tiền.
Đổ: Đồng thất ngũ bạch tam tiền.
Kiển: Đồng bát bạch tứ tuần nhị.
Tử: Đồng tam ngũ nhất bạch ngũ tiền thất.
Kinh: Đồng bát bạch tứ tiền nhị.
Khai: Đồng tam bạch ngũ tiền tất.


CHIẾM BỆNH SANH TỬ
(Coi bệnh sống chết)

Hưu: Trì bất tử.
Sanh: Bất tử.
Thương: Thập tử nhất sanh.
Đổ: Bất tử.
Kiển: Bất tử.
Tử: Tắc tử.
Kinh: Liên miên nan vũ.
Khai: Bất tử.


CHIẾM BỆNH HÀ QUỶ SỞ TÁC
(Coi ai hành?)

Hưu: Tổ phụ giữ nạp hạ giới.
Sanh: Thúc bá nạp ngũ đạo thần.
Thương: Thương vong cập ôn đạo thần.
Đổ: Huynh đệ nạp quới nhân thần.
Kiển: Cô nhi nạp thượng giới.
Tử: Táo quân nạp gia trạch thần.
Kinh: Oan gia trái chủ lai bảng.
Khai: Phạm ngũ hành tình, yêu thần.


CHIẾM BỆNH NAM NỮ TRỌNG KHINH
(Coi bệnh trai gái nặng nhẹ)

Hưu: Nam nữ sanh.
Sanh: Nam nữ sanh.
Thương: Nam trọng, nữ khinh.
Đổ: Nam sanh, nữ tử.
Kiển: Nam sanh, nữ tử.
Tử: Nam tử, đích tử (chết hết).
Kinh: Năm nữ bất tử.
Khai: Nữ nam vô sự.


CHIẾM BỆNH TRỌNG TỬ SANH TẠI HÀ NHỰT
(Coi ngày giờ sống chết)

Phàm trọng đoán nhựt; cấp đoán thời, tiệm trọng đoán ngoạt. Bệnh trọng đoán nhựt, cơ nguy đoán giờ v.v… qua đặng thì sống.

Hưu: kỵ Tuất nhựt thời.
Sanh: Kỵ Tý nhựt, Ngọ thời.
Thương: Kỵ Sửu nhựt, Dần thời.
Đổ: Kỵ Thìn nhựt, Tỵ thời.
Kiển: Kỵ Mẹo nhựt, Dậu thời.
Tử: Kỵ Ngọ nhựt, Mẹo thời.
Kinh: Kỵ Mùi nhựt, Thân thời.
Khai: Kỵ Dần nhựt, Mẹo thời.


CHIẾM BỆNH TIÊN HÀ PHÁT CƠ HẬU TRUYỆN HÀ CHỨNG

Hưu: Tiên phát hàn nhiệt, hậu truyền trọng trướng.
Sanh: Tiên phát hạ lợi, hậu truyền phúc thống.
Thương: Tiên phát trúng phong, hậu truyền nhiệt bệnh.
Đổ: Tiên phát khái thấu, hậu truyền tả lỵ.
Kiển: Tiên phát lao quyển, hậu truyền hư bệnh.
Tử: Tiên phát khí thổ, hậu truyền trầm trọng.
Kinh: Tiên phát thâp nhiệt, hậu truyền phương đậu.
Khai: Tiên phát sanh thương, hậu truyền sáp nhiệt.


CHIẾM KINH TÂM HÀ SỰ
(Coi tại sao hồi hộp)

Hưu: Kinh tâm vô sự,
Sanh: Hữu quân sự.
Thương: Thê tử hàn khốc.
Đổ: Tâm bất ninh, vô sự.
Kiển: Quan sự đại khốc.
Tử: Hữu tang chế.
Kinh: Tử tử hựu lục súc tử.
Khai: Nữ tử đào.


CHIẾM ĐƠN TRƯỢNG HÀ SỰ

Hưu: Công sự đơn trạng.
Sanh: Hứu quan sự.
Thương: Thương mãi đơn trạng.
Đổ: Hôn nhân đơn trạng.
Kiển: Thất vật, tịnh thơ đơn trạng.
Tử: Ấu đả đơn trạng.
Kinh: Đạo cướp đơn trạng.
Khai: (?)



CHIẾM NHÂN HÀNH HÀ NHỰT QUY
(Coi người đi chừng nào về)

Hưu: Dĩ quy.
Sanh: Dục quy.
Thương: Hữu bệnh dĩ quy.
Đổ: Hữu trở bán lộ.
Kiển: Dục chí hữu tín.
Tử: Hữu trở tang bệnh.
Kinh: Khẩu thiệt sự dĩ quy.
Khai: Quy chí cận gia.


CHIẾM HÀNH NHÂN
(Coi người đi)

Đoán phùng trực chi nhựt, dữ chiếu hậu phòng thử.

Hưu: Kỳ trở bất quy, ứng Tý Ngọ nhựt quy.
Sanh: Tốc quy ứng tiền, ứng hậu Sửu Dần nhựt chí.
Thương: Tồn trở ứng hậu, Mẹo Dậu nhựt chí.
Đổ: Tương chí ứng hậu, Thìn Tỵ nhựt.
Kiển: Tốc chí ứng hậu, Tỵ Ngọ nhựt.
Tử: Trì đồng ứng hậu. Mùi Thân nhựt.
Kinh: Hữu trở Mẹo Dậu nhựt.
Khai: Cấp chí ứng Tuất Hợi nhựt.


CHIẾM PHÁP
(Phép đoán xem)

Phàm chiếm các sự chi nhựt dỉ thử suy vượng tướng tắc cấp, hưu tù tắc trì. Phùng xung tắc đoán hạp chi nhựt, phùng hạp tắc đoán xung chi kỳ, ngoại khắc nội tắc cấp tốc, nội khắc ngoại tắc trì. Lâm không vong tắc xuất, không vong chi nhựt tại biến cố chí tri giả.

– Lục xung: Tý Ngọ xung, Sửu Mùi xung, Dần Thân xung, Mẹo Dậu xung, Thìn Tuất xung, Tỵ Hợi xung.

– Lục hạp: Tý Sửu hạp, Dần Hợi hạp, Mẹo Tuất hạp, Thìn Dậu hạp, Tỵ Thân hạp, Ngọ Mùi hạp.

– Tuần trung không vong:

Giáp Tý tuần trung, Tuất Hợi không.
Giáp Tuất tuần trung, Thân Dậu không.
Giáp Thân tuần trung, Ngọ Mùi không.
Giáp Ngọ tuần trung, Thìn Tỵ không.
Giáp Thìn tuần trung, Dần Mẹo không.
Giáp Dần tuần trung, Tý Sửu không.


– Không vong thời:

Giáp Kỷ nhựt, Thân Dậu thời.
Ất Canh nhựt, Ngọ Mùi thời.
Bính Tân nhựt, Thìn Tỵ thời.
Đinh Nhâm nhựt, Dần Mẹo thời.
Mậu Quý nhựt, Tý Sửu thời.


Nhược vô ngộ xung hiệp, không vong tắc đoán phùng trực giả.

VƯỢNG TƯỚNG HƯU TÙ TỬ

– Xuân: Tháng Giêng, Hai: Mộc vượng, Hỏa tướng, Thủy hưu, Kim tù, Thổ tử.
– Mùa Hạ: tháng Tư, Năm: Hỏa vượng, Thổ tướng, Mộc hưu. Thủy tù, Kim tử.
– Mùa Thu: tháng Bảy, Tám: Kim vượng, Thủy tướng, Thổ hưu, Hỏa tù, Mộc tử.
– Mùa Đông: tháng Mười, Mười Một: thì hành Thủy vượng, Mộc tướng, Kim hưu, Thổ tù, Hỏa tử.
– Tứ quí: tháng Ba, Sáu, Chín, Chạp: Thổ vượng, Kim tướng, Hỏa hưu, Mộc tù, Thủy tử.


Phàm các việc ứng mau lâu xem ngày chiếm với mùa được vượng tướng là mau, hưu tù là chậm. Ví như mùa Xuân quẻ xem ngày Dần hay Mẹo thuộc Mộc vượng;, nếu là ngày Tỵ hay ngọ thuộc Hỏa tướng. Quẻ vượng tướng ứng mau. Bằng ngày Hợi hay Tý thuộc Thủy hưu, hoặc ngày Thân hay Dậu thuộc Kim tù – quẻ hưu tù ứng chậm (xem kỹ nơi vượng tướng hưu tù tử ở trên).


Mùa Xuân, chánh nhị ngoạt: Mộc vượng, Hỏa tứơng, Thủy hưu, Kim tù, Thổ tử là đoán quẻ trên đây mà đoán quẻ khác. “Phùng xung tắc đoán hạp chi nhựt, phùng hạp tắc đoán xung chi kỳ”, quẻ xung ứng cho ngày hạp như tháng Giêng Dần, xung ngày Thân (Dần Thân xung) ứng vào ngày hạp với ngày Thân là Tỵ (Tỵ Thân lục hạp), quẻ hạp ứng vào ngày xung như tháng Giêng Dần hạp Tỵ (Dần Tỵ lục hạp) ứng vào ngày xung với Tỵ là Hợi (Tỵ Hợi lục xung).

Nhựt vị ngoại, thời vi nội, ngoại khắc nội tắc cấp, nội khắc ngoại tắc trì. Ngày khắc giờ thì mau, giả như ngày Tý Thủy khắc giờ Ngọ Hỏa là mau, trái lại giờ Tý Thủy khắc ngày ngày Ngọ Hỏa thì chậm. Cứ phỏng theo đó mà đoán v.v…

Tuần trung không vong là gì? Năm, tháng, ngày và giờ đều luân chuyên trong lục giáp… Gọi sáu con Giáp gồm 60 ngày. Mỗi vòng con Giáp có 10 ngày, từ Giáp, Ất, Bính, Đinh… cho đến Nhâm, Quý và vòng trở lại.

– Con Giáp vòng thứ nhất từ ngày Giáp Tý đến Quý Dậu: là 10 ngày Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mẹo, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tâm Mùi, Nhâm Thân và Quý Dậu. Mười ngày trong vòng Giáp Tý này không có ngày Tuất và Hợi. Chiếm quẻ trong mười ngày này gặp quẻ Túatvà Hợi gọi là quẻ lâm không vong, nên có câu: Giáp Tý tuần trung, Tuất Hợi không. Nếu như xen bịnh thấy mạnh hay chết cũng qua khỏi ngày Quý, đến ngày xung hay hạp bốn mùa nói trên mới chết hay mạnh.

Giả như bữa nay ngày Ất Sửu gặp quẻ không vong, xét thấy bệnh mạnh ngày Dần, mai là ngày Bính Dần, chớ chi quẻ không lâm không vong thì mai mạnh, ngặt vì quẻ lâm không vong phải đợi xuất không là qua khỏi ngày Quý Dậu tiếp đến Tuất, Hợi, Tý, Sử đến Mậu Dần là mười ba ngày nữa, lo chạy cho bệnh còn thở đến đó là ngày bệnh bắt đầu mạnh không sợ nguy hiểm nữa, nhược bằng quẻ ấy thấy bệnh nguy chết mà thấy bệnh ấy mạnh trước ngày Mậu Dần đi nữa là mạnh chơi vậy thôi, đến ngày đó phải chết và nhất định chết. Cứ phỏng theo đó mà đoán…

– Con Giáp vòng thứ hai từ ngày Giáp Tuất đến Quý Mùi: Con Giáp này không có ngày Thân và Dậu là Thân Dậu lâm không của câu: Giáp Tuất tuần trung, Thân Dậu không.
– Con Giáp vòng thứ ba từ ngày Giáp Thân đến Quý Tỵ: Con Giáp này không có ngày Ngọ và Mùi là Ngọ Mùi lâm không của câu: Giáp Thân tuần trung, Ngọ Mùi không.

– Con Giáp vòng thứ tư từ ngày Giáp Ngọ đến Quý Mẹo: Con Giáp này không có ngày Thìn và Tỵ là Thìn Tỵ lâm không của câu: Giáp Ngọ tuần trung, Thìn Tỵ không.

– Con Giáp vòng thứ năm từ ngày Giáp Thìn đến Quý Sửu: Con Giáp này không có ngày Dần và Mẹo là Dần Mẹo lâm không của câu: Giáp Thìn tuần trung, Dần Mẹo không.

– Con Giáp vòng thứ sáu từ ngày Giáp Dần đến Quý Hợi: Con Giáp này không có ngày Tý và Sửu là Tý Sửu lâm không của câu; Giáp Dần tuần trung, Tý Sửu không.

Trước hết xét quẻ có lâm tuần không chăng? Buổi đầu bạn lúng túng lục giáp, soạn giả hiến cho bạn cách tìm Tuần Không vắn tắt này: Giả như chiếm quẻ ngày Bính Ngọ, bạn xòe bàn tay trái ra bấm theo bàn tay hình vẽ: Bấm Bính lên cung Ngọ thuận chiều, Đinh tại Mùi. Mậu tại Thân, Kỷ tại Dậu, Canh tại Tuất… cho đến Quý tại Sửu. Mãn con giáp chữ Quý tại Sửu thì hai cung kế theo Dần và Mẹo là tuần trung không vong, gọi tắt là không hay không vong.

– Quẻ lâm không vong: Nếu bạn chiếm quẻ nhằm một ngày trong vòng Giáp Tý, tất nhiên bạn hiểu ngay Tuất, Hợi là không vong. Nếu ngày ấy chiếm gặp quẻ Khai thuộc Càn tam liên Tây Bắc Tuất Hợi, thì quẻ Khai này là quẻ không vong.


– Không vong thời:

Giáp Kỷ nhựt, Thân Dậu thời.
Ất Canh nhựt, Ngọ Mùi thời.
Bính Tân nhựt, Thìn Tỵ thời.
Đinh Nhâm nhựt, Dần Mẹo thời.
Mậu Quý nhựt, Tý Sửu thời.


Nhược vô ngộ xung hạp, không vong tắc đoán phùng trực giả.

Giả như ngày Giáp và ngày Kỷ, chiếm quẻ nhằm giờ Thân Dậu là giờ không vong. Quẻ chậm thì đoán ngày tháng, quẻ cấp tốc như chuyện sanh đẻ thì đoán giờ.


CHIẾM DU VÃNG HÀ PHƯƠNG
(Coi đến nhà gặp chủ chăng?)


Hưu: Bất tại gia.
Sanh: Tại gia.
Thương: Bất tại gia.
Đổ: Tại gia tương phùng.
Kiển: Chủ khứ du thỉ quy.
Tử: Chủ đương ưu sự.
Kinh: Tại gia.
Khai: Tại gia trú khứ, quy bất thiệt.


CHIẾM KHỨ PHÙNG HÀ NHƠN
(Đi dọc đường gặp ai?)

Hưu: Ngộ trung nam tại bổn xả.
Sanh: Ngộ thiếu nam chấp mộc vật.
Thương: Ngộ nam nhơn cao đại.
Đổ: Ngộ nữ nhơn chấp mộc.
Kiển: Phùng nữ trung.
Tử: Ngộ thiếu nữ, quả phụ.
Kinh: Ngộ lão bà khốc khấp.
Khai: Ngộ quan lại, tăng ni.


CHIẾM TÁ VẬT ĐẮC PHỈ
(Coi đi mượn đồ đặng chăng?)

Hưu: Bất đắc.
Sanh: Thiểu đắc.
Thương: Bất đắc.
Đổ: Đắc mộc vật.
Kiển: Đắc thủy vật.
Tử: Bất đắc.
Kinh: Bất đắc.
Khai: Đắc kim vật.


CHIẾM XUẤT HÀNH KIẾT HUNG
(Coi ra đi lành dữ)

Hưu: Khẩu thiệt vị thành.
Sanh: Xuất hành hữu kiết.
Thương: Hành lục bịnh ách.
Đổ: Hành trung thân hữu bịnh.
Kiển: Thân xả hỷ hành lục bịnh.
Tử: Hành lục bịnh hữu khốc, hành thủy trầm thoàng.
Kinh: Hành lục hỷ (đường bộ vui) Tây Nam thất tài.
Khai: Tây tiền đại kiết, xá thân phước lộc.



CHIẾM NHƠN ĐÁO CẦU HÀ SỰ
(Coi khách đến muốn việc gì?)

Hưu: Vấn tiền hoặc hoa quả.
Sanh: Cầu dược hoặc vấn sự.
Thương: Cầu hoa quả hay tế sự.
Đổ: Cầu điền thổ hoặc mãi mại.
Kiển: Cầu văn thư hoặc châu báu.
Tử: Hoặc ưu sự, vấn tật.
Kinh: Cầu hôn nhân hoặc công sự.
Khai: Cầu du hí hoặc hỷ sự.



CHIẾM CÔNG DANH THÀNH PHỈ
(Xem công danh nên chăng?)

Hưu: Vị thành (chưa).
Sanh: Trực thành.
Thương: Bất thành.
Đổ: Thành danh.
Kiển: Thiểu đắc.
Tử: Bất thành.
Kinh: Trá thành.
Khai: Công thành danh toại.



CHIẾM QUÁ HẢI MÔN AN PHỈ
(Coi qua biển bình an không?)

Hưu: Bình an.
Sanh: Phòng hữu động.
Thương: Bất ngộ.
Đổ: Đại kiết quá bá lý.
Kiển: Quá giang thực phong.
Tử: Bất khả quá.
Kinh: Tiền kiết, hậu hung.
Khai: Đại kiết.



CHIẾM BỔN MẠNG CẬP GIA NỘI
(Xem gia đạo và bổn mạng)

Hưu: Bình an.
Sanh: Thân an, thê hữu thay, chẩu khẩu thiệt.
Thương: Gia nội hữu tai ương.
Đổ: Bình an hữu khẩu thiệt.
Kiển: Bình an.
Tử: Tật bịnh, tin quan lại.
Kinh: Hữu quan sự thế thái.
Khai: Bình an tấn tài.



CHIẾM GIA TRẠCH BÌNH AN PHỈ
(Xem chỗ ở tốt xấu)

Hưu: Bình an.
Sanh: Thê thái, động thổ.
Thương: Gia trạch động thổ mộc thần.
Đổ: Lục súc hại chủ khẩu thiejt.
Kiển: Bình an.
Tử: Tật bịnh, tụng sự.
Kinh: Quan sự.
Khai: Bình an.



CHIẾM PHỤ MẪU BÌNH AN PHỈ
(Coi cha mẹ bình an chẳng?)

Hưu: Nhứt phần tử.
Sanh: Song toàn.
Thương: Pụ mẫu hữu ly.
Đổ: Phụ mẫu song toàn.
Kiển: Phụ mẫu hưu lộc.
Tử: Phụ mẫu thương vong.
Kinh: Ly vong quán hiệp cư tồn.
Khai: Phụ mẫu song toàn.



CHIẾM PHU THÊ KÝ ĐẠI
(Coi sự sanh hoạt vợ chồng)

Hưu: Nhứt đại bình an.
Sanh: Nhị đại phân cách.
Thương: Tam đại hiệp cánh hậu cô lập.
Đổ: Nhứt đại bất chánh.
Kiển: Bình an phước lộc nhị đại cách.
Tử: Tứ đại tử cô lập.
Kinh: Nam ưu nữ bội phu.
Khai: Phu thê giai lão.



CHIẾM HUYNH ĐỆ NAM NỮ CỤ NHƠN
(Coi anh em trai gái mấy người?)

Hưu: Tam nam, tứ nữ.
Sanh: Lục nam, tứ nữ.
Thương: Tam nhơn tồn nhứt nam.
Đổ: Tam nam, ngũ nữ.
Kiển: Lục nam, thất nữ.
Tử: Độc lập nhứt nhơn.
Kinh: Tồn nhị nhơn.
Khai: Lục nam, tam nữ hiệp.



CHIẾM TUẾ NỘI AN NGUY
(Coi một năm ra sao)

Hưu: Bình an.
Sanh: Thánh bình.
Thương: Thương đại nhơn.
Đổ: Thiên hạ kinh ưu.
Kiển: Thái bình.
Tử: Thiên hạ tật bịnh.
Kinh: Tuế nội…
Khai: Thiên hạ bình an.



CHIẾM VĂN THƠ THÀNH PHỈ
(Coi đơn từ nên chăng?)

Hưu: Trì bị thành.
Sanh: Tốc thành.
Thương: Ưu kinh vị thành.
Đổ: Tự vị thành.
Kiển: Tốc tín thành.
Tử: Trầm bất phát.
Kinh: Trá thành (lở dở).
Khai: Phát thành.



CHIẾM TÍN HƯ THIỆT
(Coi tin thiệt giả)

Hưu: Hư tín.
Sanh: Thiệt tín.
Thương: Trá tín.
Đổ: Bán hư bánthiệt tín.
Kiển: Thiệt tín.
Tử: Hư tín.
Kinh: Trá tín.
Khai: Thiệt tín.



CHIẾM MƯU SỰ THÀNH PHỈ
(Coi lo toan nên chăng?)

Hưu: Tốc thành.
Sanh: Hoan hỷ.
Thương: Bất thành.
Đổ: Thành kiết.
Kiển: Thành kiết.
Tử: Bất thành.
Kinh: Sự hữu nghị.
Khai: Thành kiết.



CHIẾM TỤNG SỰ THẮNG PHỤ
(Coi thưa kiện ăn thua)

Hưu: Nhơn thắng, ngã bại.
Sanh: Ngã thắng, nhơn bại.
Thương: Nhơn ngã cụ bại.
Đổ: Nhơn ngã đồng lực.
Kiển: Ngã thắng nhơn bại.
Tử: Nhơn ngã cụ bại.
Kinh: Nhơn ngã đồng lực.
Khai: Ngã thắng, nhơn bại.



CHIẾM CẦU TÀI MÃI MẠI
(Coi buôn bán lời lõ ra sao?)

Hưu: Bất lợi.
Sanh: Đắc tài lợi.
Thương: Đắc tài, hữu khẩu thiệt.
Đổ: Đắc tài.
Kiển: Đắc tài bán thất.
Tử: Bất lợi, hung.
Kinh: Hành bất kiết.
Khai: Nghi kiết (nên đi, tốt)



CHIẾM QUÝ NHƠN KIẾT HUNG
(Coi người lành dữ)

Hưu: Hỷ kiết.
Sanh: Hữu ẩm thực hỷ.
Thương: Bất kiết.
Đổ: Hoan hỷ.
Kiển: Đại kiết.
Tử: Bất kiết.
Kinh: Hữu nạn bất kiết.
Khai: Nghi kiết.



CHIẾM SẢN NAM NỮ TRÌ TỐC
(Coi sanh trai gái mau lâu)

Hưu: Sanh nam trì trì.
Sanh: Sanh nam tốc, kiết.
Thương: Sanh năm hữu ưu.
Đổ: Sanh nữ trì.
Kiển: Sanh nữ kiết.
Tử: Sanh nữ sản nạn.
Kinh: Sanh nữ trì, hữu ưu.
Khai: Sanh nam kiết, nữ hung.

Tin Nổi Bật

Thuốc Apidom 5ml Điều Trị Chứng Buồn Nôn

Thuốc Apidom 5ml điều trị chứng buồn nôn Thuốc Apidom 5ml Thành phần Domperidone - 5mg/5ml Công dụng Ðiều trị triệu chứng buồn nôn và nôn nặ...

Bài Đăng Phổ Biến