Quẻ 25 Thiên Lôi Vô Vọng: Thế của quẻ này có Càn là trời ở trên, Cấn là sấm ở dưới. Hàm ý muốn nói đến gầm trời nhiều sự cố là hung, loạn không còn sự mong chờ, không có tiến triển, không có lợi.
Quẻ 33 Thiên Sơn Độn: Quẻ này có tượng trên là trời, tượng dưới là núi. Đứng ở chân núi có thể nhìn đỉnh núi là trời, nhưng càng lên đỉnh núi cao thì trời lại càng lùi xa và mù mịt. Đây là hành động mặt trời đang rút lui, ẩn trốn núi. Cho nên thánh nhân xưa mới đặt tên quẻ là Độn nghĩa là độn đi (Ánh sáng về chiều không còn thịnh vượng như lúc trưa), xếp vào loại quẻ Hung, chiêm đoán thời điểm đi xuống, nên rút lui tránh hậu quả nặng nề.
Quẻ 36 Địa Hỏa Minh Di: được xếp vào loại quẻ
Hung. Hai chữ “Minh Di” được hiểu là sự tăm tối, dập tắt. Tượng quẻ này có Khôn
ở trên, Ly ở dưới, tượng trưng cho hình ảnh mặt trời lặn xuống, ánh sáng bị che
lấp dần, bóng tối bắt đầu bao trùm. Do đó quẻ Minh Di chiêm đoán một thời điểm
tương lai mù mịt, thời vận xấu đầy khó khăn.
Quẻ 38 Hỏa Trạch Khuê: mang nghĩa sự đối đầu, trái ngược. Tượng quẻ Khuê là Thượng Hỏa Hạ Trạch, tức là lửa ở trên còn đầm ở dưới. Ngọn lửa bốc cháy bay lên trên, còn nước ở trạch, đầm lại chảy xuống dưới. Quái trên, quái dưới đối lập nhau, xung khắc nhau báo hiệu mọi việc khó khăn, nhiều trở ngại.
Quẻ 39 Thủy Sơn Kiển: Quẻ này gọi ngắn gọn là quẻ Kiến, mang ý nghĩa là sự trở ngại, khó khăn trong hành động. Tượng quẻ Kiến là sông nước (Thủy) ngăn ở đằng trước, núi (Sơn) chặn ở đằng sau. Đây là tình thế nguy hiểm không lối thoát nên quẻ Kiến thuộc loại quẻ Hung.
Quẻ 43 Trạch Thiên Quải: Quẻ Trạch Thiên Quải
hay quẻ Quải thuộc loại quẻ Hung trong Kinh Dịch. Quải có nghĩa là sự lệch
hướng hoặc cũng có thể hiểu là sự vụng về. Tượng quẻ có quái trên là Đoài, quái
dưới là Càn. Nước đầm chằm lên tận cùng trời cao, ắt dẫn tới nứt vỡ. Thời kỳ
Trạch Thiên Quải quần hảo xúm lại trừ diệt gian thần, tiểu nhân suy tan, quyết
liệt tiêu diệt mới tới được thắng lợi.
Quẻ 54 Lôi Trạch Quy Muội: thuộc nhóm quẻ Hung trong Kinh Dịch. Chữ “Muội” là từ để gọi những người thiếu nữ, Quy Muội đề cập tới lễ đưa con gái về nhà chồng. Tượng quẻ có quái Chấn ở trên, quái Đoài ở dưới. Trên đầm xuất hiện sấm, điềm báo vi phạm luật lễ, hay tập quán không trái nổi rủi ro, tai họa. Quẻ 54 chiêm đoán thời vận xấu, mọi việc khó khăn, dễ bị tình cảm, dục vọng chi phối, đi vào ngõ cụt.
Quẻ 64: Hỏa Thủy Vị Tế: thuộc
nhóm quẻ Hung trong Kinh Dịch. Vị Tế là công việc còn đang dang dở, chưa thành
tựu. Sở dĩ sự dang dở đó còn tồn tại thì hình thể của quẻ có các hào không đúng
ngôi vị. Hào Âm thì ở vị Dương, hào Dương thì ở vị Âm. Điều này như trong xã
hội, người cấp trên ở địa vị dưới, người cấp dưới lại ở địa vị trên. Thành ra
mọi người ngỡ ngàng, chuyện đời khó xử.
Cổ Thánh Hiền đã đặt quẻ Vị Tế vào cuối bộ 64 quẻ dịch cốt là để nhắc nhở hậu thế rằng sự đời chẳng bao giờ là xong vĩnh viễn được. Thịnh, suy, trị, loạn chẳng có gì là bền mãi, tất cả chỉ là giai đoạn tạm thời, thay đổi lẫn nhau, mãi mãi, vô cùng tận. Chủ ý là muốn khuyên ta đừng bao giờ ngừng cố gắng, đừng bao giờ quên lo liệu, đề phòng.

0 comments:
Đăng nhận xét